Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV
khai mạc Công nghị Hồng y đoàn Ngoại thường
https://press.vatican.va/content/salastampa/it/bollettino/pubblico/2026/01/07/0018/00040.html
Chiều nay, tại Hội trường Thượng Hội đồng ở Vatican, Công nghị Ngoại thường đã được khai mạc với sự hiện diện của Hồng y Đoàn cùng với Đức Thánh Cha Lêô XIV. Công việc của Công nghị Ngoại thường được tiến hành trong hai ngày, 7 và 8 tháng 1 năm 2026.
Chúng tôi công bố dưới đây bài diễn văn Đức Thánh Cha đã đọc trước các Hồng y hiện diện tại Công nghị:
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Anh em rất thân mến,
Tôi rất vui mừng được đón tiếp anh em và chào mừng anh em. Chân thành cảm ơn sự hiện diện của anh em! Xin Chúa Thánh Thần, Đấng chúng ta vừa khẩn cầu, hướng dẫn chúng ta trong hai ngày suy tư và đối thoại này.
Tôi cho rằng thật có ý nghĩa khi chúng ta quy tụ trong Công nghị ngay sau ngày đại lễ mừng Chúa Hiển Linh, và tôi muốn mở đầu các công việc của chúng ta bằng một gợi ý phát xuất từ chính mầu nhiệm này.
Trong Phụng vụ, lời kêu gọi luôn luôn cảm động của ngôn sứ Isaia đã vang lên: “Ðứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Ðức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Ðức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.” (Is 60,1-3)
Những lời này gợi nhớ đến phần mở đầu của Hiến chế về Hội Thánh của Công đồng Vaticanô II. Tôi xin đọc trọn vẹn đoạn đầu tiên: “Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội, bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật (x. Mc 16:15). Vì Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên, dựa trên giáo huấn của các Công Ðồng trước, Giáo Hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới. Các hoàn cảnh hiện tại làm cho nhiệm vụ của Giáo Hội càng trở nên khẩn thiết hơn, để ngày nay mọi người, nhờ được liên hệ chặt chẽ hơn bởi nhiều ràng buộc xã hội, kỹ thuật và văn hóa, cũng được hiệp nhất trọn vẹn trong Chúa Kitô” (Lumen Gentium 1).
Chúng ta có thể nói rằng, qua dòng thời gian của nhiều thế kỷ, Chúa Thánh Thần đã linh hứng cùng một thị kiến nơi vị ngôn sứ và nơi các Nghị phụ Công đồng: thị kiến về ánh sáng của Chúa chiếu soi thành thánh – trước là Giêrusalem, rồi đến Hội Thánh – và, khi được phản chiếu nơi thành thánh, ánh sáng ấy giúp cho muôn dân có thể bước đi giữa bóng tối của thế gian. Điều mà Isaia loan báo “bằng hình bóng”, thì Công đồng nhận ra nơi thực tại được tỏ lộ trọn vẹn là Đức Kitô, ánh sáng muôn dân.
Chúng ta có thể hiểu các triều giáo hoàng của thánh Phaolô VI và của thánh Gioan Phaolô II theo viễn tượng này của Công đồng, nghĩa là chiêm ngắm mầu nhiệm Giáo Hội hoàn toàn gắn liền với mầu nhiệm Đức Kitô, và từ đó hiểu sứ mạng loan báo Tin Mừng như là sự toả rạng nguồn năng lượng vô tận phát xuất từ Biến cố trung tâm của lịch sử cứu độ.
Sau đó, các Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI và Phanxicô đã tóm kết thị kiến này trong một từ: sự thu hút. Đức Bênêđictô nói lên điều này trong bài giảng khai mạc Hội nghị Aparecida năm 2007, khi ngài nói: “Giáo Hội không làm công việc chiêu dụ tín đồ. Giáo Hội phát triển nhờ ‘sự thu hút’: cũng như Đức Kitô ‘lôi kéo mọi người đến với mình’ bằng sức mạnh tình yêu của Người, đạt tới tột đỉnh nơi hy tế Thập Giá, thì Giáo Hội cũng hoàn thành sứ mạng của mình ở mức độ mà, nhờ kết hợp với Đức Kitô, Giáo Hội thực hiện mọi hoạt động của mình trong sự phù hợp thiêng liêng và cụ thể với đức ái của Chúa mình”. Đức Giáo hoàng Phanxicô hoàn toàn đồng thuận với cách tiếp cận này và đã nhiều lần nhắc lại trong các bối cảnh khác nhau.
Hôm nay, với niềm vui, tôi tiếp nhận và chia sẻ lại điều ấy với anh em. Và tôi mời gọi anh em hãy cùng với tôi đặc biệt lưu ý đến điều mà Đức Giáo hoàng Bênêđictô đã chỉ ra như là “sức mạnh” chi phối chuyển động thu hút này: sức mạnh ấy chính là Charis, là Agape, là Tình Yêu, Đức Ái của Thiên Chúa đã nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô và, trong Chúa Thánh Thần, được ban cho Giáo Hội và thánh hóa mọi hành động của Giáo Hội. Thật vậy, không phải Giáo Hội thu hút, mà là Đức Kitô; và nếu một Kitô hữu hay một cộng đoàn Giáo Hội có sức thu hút, thì đó là vì qua “kênh dẫn” ấy, dòng nhựa sống của Đức Ái tuôn trào từ Trái Tim Đấng Cứu Độ được thông truyền. Thật có ý nghĩa khi Đức Giáo hoàng Phanxicô, người đã mở đầu với Evangelii gaudium “về việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay”, và kết thúc với Dilexit nos “về tình yêu thần linh và nhân loại của Trái Tim Đức Kitô”.
Thánh Phaolô viết: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14). Động từ synechei cho thấy rằng tình yêu của Đức Kitô thúc đẩy chúng ta vì nó chiếm hữu chúng ta, bao bọc chúng ta, ràng buộc chúng ta. Đó chính là sức mạnh thu hút mọi người đến với Đức Kitô, như chính Người đã tiên báo: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Trong mức độ chúng ta yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, chúng ta thuộc về Người, chúng ta là cộng đoàn của Người, và Người có thể tiếp tục thu hút qua chúng ta. Thật vậy, chỉ có tình yêu mới đáng tin, chỉ có tình yêu mới đáng để đặt niềm tin.[1][1]
Hiệp nhất thì thu hút, chia rẽ thì phân tán. Dường như ngay cả vật lý học, ở cả bình diện vi mô lẫn vĩ mô, cũng xác nhận điều này. Vì thế, để thực sự là một Giáo Hội truyền giáo, nghĩa là có khả năng làm chứng cho sức hút của đức ái Chúa Kitô, trước hết chúng ta phải thực hành điều răn của Người, điều răn duy nhất mà Người đã ban cho chúng ta sau khi rửa chân cho các môn đệ: “Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng hãy yêu thương nhau”. Và Người nói thêm: “Căn cứ vào điều này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em yêu thương nhau” (Ga 13,34-35). Thánh Augustinô chú giải: “Chính vì thế mà Người đã yêu thương chúng ta, để chúng ta cũng yêu thương nhau. Khi yêu thương chúng ta, Người đã ban cho chúng ta sự trợ giúp để nhờ yêu thương lẫn nhau, chúng ta được gắn kết với nhau, và khi các chi thể được liên kết bằng một mối dây êm ái như thế, chúng ta trở thành thân thể của một Đầu quyền năng cao cả” (Bài giảng 65 về Tin Mừng Gioan, 2).
Anh em rất thân mến, tôi muốn bắt đầu từ chỗ này, với lời này của Chúa cho Công nghị đầu tiên của chúng ta, và nhất là cho hành trình hiệp đoàn mà chúng ta được mời gọi cùng nhau thực hiện, với ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta là một nhóm rất đa dạng, phong phú với nhiều nguồn gốc, văn hóa, truyền thống Giáo Hội và xã hội khác nhau, những con đường đào tạo và học thuật, kinh nghiệm mục vụ khác nhau, và dĩ nhiên cả những đặc điểm và tính cách cá nhân rất khác nhau. Trước hết, chúng ta được mời gọi làm quen với nhau và đối thoại với nhau để có thể cùng nhau làm việc phục vụ Giáo Hội. Tôi hy vọng rằng chúng ta có thể tăng trưởng trong sự hiệp thông để cống hiến một mẫu gương về tính hiệp đoàn.
Hôm nay, theo một nghĩa nào đó, chúng ta tiếp nối cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ mà tôi đã có với nhiều anh em ngay sau Mật nghị vừa qua, với “một thời khắc hiệp thông và huynh đệ, suy tư và chia sẻ, nhằm nâng đỡ và tư vấn cho Đức Giáo hoàng trong trách nhiệm nặng nề là điều hành Giáo Hội hoàn vũ” (Thư Triệu tập Công nghị Ngoại thường, ngày 12 tháng 12 năm 2025).
Trong những ngày này, chúng ta sẽ có dịp trải nghiệm một sự suy tư cộng đoàn về bốn chủ đề: Evangelii gaudium, về sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới hôm nay; Praedicate Evangelium, về sứ vụ của Tòa Thánh, đặc biệt đối với các Giáo Hội địa phương; Thượng Hội đồng và tính hiệp hành, như công cụ và phong cách cộng tác; Phụng vụ, nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Vì lý do thời gian và để tạo điều kiện cho việc đào sâu thực sự, chúng ta sẽ chỉ chọn hai trong số chủ đề ấy để thảo luận.
Tất cả 21 nhóm đều sẽ tham gia vào việc chọn 2 đề tài thảo luận; tuy nhiên, chỉ có 9 nhóm đến từ các Giáo Hội địa phương sẽ trình bày bản bản tường trình, lý do là vì đối với các nhóm thành viên đang làm việc trong Giáo triều và cư trú tại Rôma, tôi dễ có các dịp tham vấn thường xuyên hơn để xin ý kiến các vị này.
Tôi ở đây để lắng nghe. Như chúng ta đã học được trong hai Kỳ họp của Thượng Hội đồng Giám mục các năm 2023 và 2024, năng động của tính hiệp hành đòi hỏi trên hết là lắng nghe. Mỗi thời khắc như thế này là một cơ hội để đào sâu sự trân trọng chung của chúng ta đối với tính hiệp hành. “Thế giới mà chúng ta đang sống và được mời gọi yêu thương và phục vụ, ngay cả giữa những mâu thuẫn của nó, đòi hỏi Hội Thánh phải tăng cường các sự hiệp lực trong mọi lãnh vực sứ mạng của mình. Chính con đường hiệp hành là con đường mà Thiên Chúa mong đợi nơi Hội Thánh của thiên niên kỷ thứ ba” (Phanxicô, Diễn văn kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục, ngày 17 tháng 10 năm 2015).
Một ngày rưỡi chúng ta ở bên nhau sẽ là hình ảnh báo trước cho hành trình tương lai của chúng ta. Chúng ta không bắt buộc phải đạt đến một văn bản, nhưng là tiếp tục một cuộc đối thoại giúp tôi trong sứ vụ phục vụ sứ mạng của toàn thể Giáo Hội.
Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến hai chủ đề đã được chọn, với câu hỏi định hướng sau:
Nhìn về hành trình của một hoặc hai năm tới, những lưu ý và ưu tiên nào có thể định hướng hành động của Đức Thánh Cha và của Giáo triều về vấn đề này?
Lắng nghe trí tuệ, con tim và tinh thần của mỗi người; lắng nghe nhau; chỉ trình bày ý chính và thật ngắn gọn để mọi người đều có thể phát biểu: đó sẽ là cách thức chúng ta tiến hành. Các nhà hiền triết Rôma xưa từng nói: Non multa sed multum! – “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, không cần nhiều, mà cần chất lượng! Và trong tương lai, phong cách lắng nghe lẫn nhau này, tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và cùng nhau bước đi, sẽ tiếp tục là sự trợ giúp lớn lao cho thừa tác vụ Phêrô mà tôi đã được trao phó. Ngay từ cách thức chúng ta học làm việc với nhau, trong tình huynh đệ và tình bạn chân thành, một điều gì đó mới mẻ có thể xuất hiện, giúp chúng ta tập trung cả vào hiện tại và tương lai.
Bản dịch tiếng Việt:
Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên
UBLBTM/HĐGMVN
[1] Cf. H.U. von Balthasar,Glaubhaft ist nur Liebe, Johannes Verlag, Einsiedeln 1963).